English (UK)Vietnamese
Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider
Bạn đang ở: Home

Bài viết

Qua 11 tháng: Xuất khẩu cả năm 2013 sẽ vượt mục tiêu đề ra.

Xuất khẩu tiếp tục tăng cao

Tháng 11/ 2013, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 17,9% so với tháng 11 năm 2012, trong đó: xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 7,85 tỷ USD, tăng 30,3% so với tháng 11 năm 2012. Tổng hợp 11 tháng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 121,023 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ, trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt hơn 74,56 tỷ USD, tăng 28,5% so với cùng kỳ.Thường thì tháng 12 bao giờ cũng là tháng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong năm. Nếu tình hình như hiện nay, thì xuất khẩu cả năm có thể đạt 133-133,5 tỷ USD, vượt mức dự báo từ tháng trước (131 tỷ), tăng hơn 16% và cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra đầu năm (126,1 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2012).

 

Đến nay đã có 21 mặt hàng đạt từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó Nhóm Công nghiệp chế biến là 16 còn lại 5 mặt hàng thuộc Nhóm Nông, lâm, thuỷ sản. Đồng thời cũng xuất hiện hai mặt hàng gần đạt 1 tỷ USD. Đó là Rau quả (937 triệu USD), Sắn và các loại sản phẩm từ sắn (999 triệu USD ).Nếu giữ nhịp như tháng 11 thì cả năm sẽ vào TOP 1 tỷ USD.

 

Nhóm hàng công nghiệp chế biến với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 85,5 tỷ USD, tăng 27,3% và chiếm tỷ trọng khoảng 70,6%, khẳng định Nhóm này tiếp tục giữ vị thế hàng đầu của sự tăng trưởng xuất khẩu vừa với tỷ trọng lớn vừa với tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của Tổng kim ngạch xuất khẩu và vì với số lượng áp đảo các mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên. Nhiều mặt hàng trong Nhóm có kim ngạch tăng như: Bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc; hóa chất; sản phẩm chất dẻo; túi sách, vali, mũ, ô dù; sản phẩm mây, tre, cói, thảm; gỗ và sản phẩm từ gỗ; hàng dệt và may mặc; xơ, sợi dệt các loại; giày dép các loại; nguyên phụ liệu, dệt may, da giày; sắt thép các loại; sản phẩm từ sắt thép; kim loại thường khác và sản phẩm; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; dây điện và dây cáp điện; phương tiện vận tải và phụ tùng... Tuy nhiên, một số sản phẩm có kim ngạch giảm như: phân bón giảm; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm.

 

Trong số các mặt hàng nói trên, đáng chú ý tới mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện.tăng tới 78,4% đạt kim ngạch 20,3 tỷ USD, đứng đầu danh mục các mặt hàng đạt từ m 1 tỷ USD trở lên. Riêng kim ngạch mặt hàng này đã vượt kim ngạch cả Nhóm nông, lâm, thuỷ sản.

 

Về mặt hàng dệt may, tính đến hết tháng 11 so với cùng kỳ, riêng 4 thị trường lớn là Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc (chiếm gần 72% kim ngạch xuất khẩu của ngành) có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khá cao: Mỹ tăng 15,5% (tương ứng khoảng 1,06 tỷ USD); Nhật Bản tăng 23,4% (tương ứng khoảng 426 triệu USD); Hàn Quốc tăng 51,6% (tương ứng khoảng 624 triệu USD); Trung Quốc tăng 49,1% (tương ứng khoảng 390 triệu USD).

 

Kim ngạch xuất khẩu Nhóm nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 18,12 tỷ USD, giảm 5,8% và chiếm tỷ trọng 14,97% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó: một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: thủy sản; rau quả; nhân điều; hạt tiêu. Tuy nhiên, cà phê giảm 26,1%; gạo giảm 18,8%; sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 19,2%; cao su giảm 13,4%.

 

Nhóm nhiên liệu, khoáng sản kim ngạch xuất khẩu ước 8,7 tỷ USD, giảm 18,7% và chiếm tỷ trọng gần 7,2%, trong đó: Than đá giảm 28,7%; dầu thô giảm 14,4%; xăng dầu các loại giảm 34,9%; quặng và khoáng sản khác tăng 10,1%

 

Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng hóa khác ước đạt 8,75 tỷ USD, tăng 22,9% và chiếm tỷ trọng 7,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

 

Xét trên phương diện giá xuất khẩu, một số mặt hàng xuất khẩu dưới dạng thô nên chịu ảnh hưởng tức thời của giá thế giới giảm, như: nhân điều; hạt tiêu; gạo; cao su; than đá; dầu thô; xăng dầu các loại; quặng và khoáng sản khác; phân bón; chất dẻo nguyên liệu; sắt thép các loại... Tuy vậy, bù lại cũng có một số mặt hàng giá tăng như chè các loại; sắn và sản phẩm từ sắn; xơ, sợi dệt các loại.

 

Đứng về mặt số lượng, các mặt hàng có lượng xuất khẩu tăng gồm: nhân điều; hạt tiêu; than đá; quặng và khoáng sản khác; xơ, sợi dệt các loại; sắt, thép các loại.. Tuy nhiên, một số mặt hàng giảm như: cà phê; chè các loại; gạo; sắn và các sản phẩm từ sắn; dầu thô; xăng dầu các loại; phân bón các loại...

 

Trong ba thị trường lớn, thị trường Châu Á, vẫn chiếm tỷ trọng quá bán. Còn thị trường Châu Âu, Châu Mỹ tỷ trọng ở thế dàn hàng ngang trên 20%. Cụ thể, xuất khẩu vào thị trường Châu Á tăng 12,9%, chiếm tỷ trọng 51,2% tổng kim ngạch nhập khẩu; Châu Âu tăng 21,6% và chiếm tỷ trọng trên 20,4% (trong đó: EU tăng 22,4% và chiếm tỷ trọng 18,4%); Châu Mỹ tăng 28,2%, chiếm tỷ trọng 22,1%; Châu Phi tăng 12,9%, chiếm tỷ trọng 1,6%; Châu Đại Dương tăng 19,8%, chiếm tỷ trọng gần 3,0%; thị trường chưa phân tổ chiếm tỷ trọng gần 1,8% .

 

Nhập khẩu tiếp tục được kiểm soát

Tháng 11, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 12,25 tỷ USD, tăng 22,3% so với tháng 11 năm 2012, trong đó: kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 7 tỷ USD, tăng 30,1% so với tháng 11 năm 2012. Tính chung 11 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 121,12 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ, trong đó: kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 52,18 tỷ USD, tăng 6,0%, chiếm tỷ trọng 43,1%; kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 68,94 tỷ USD, tăng 26,0% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 56,9% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước.

 

Nhóm hàng cần nhập khẩu tiếp tục giữ vị thế chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu, với kim ngạch của nhóm hàng này đạt gần 106,4 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 87,8%. Đay là nguồn chủ yếu đảm bảo cho nguyen liệu, vạt tư cho sản xuất. một số mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch tăng như: hạt điều; ngô; dầu thô; khí đốt hóa lỏng; chất dẻo nguyên liệu; giấy các loại; bông các loại; xơ, sợi dệt các loại; vải các loại; nguyên phụ liệu dệt may, da giày; thép các loại; máy tính, điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện (trừ điện thoại di động)...

 

Do kiểm soát nhập khẩu được thực hiện khá tốt, nên tốc độ tăng của hai nhóm cần kiểm soát nhập khẩu và hạn chế nhập khẩu tăng những không cao. Kim ngạch của nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 1,5% và chiếm tỷ trọng 3,4%; kim ngạch của nhóm hàng hạn chế nhập khẩu ước đạt gần 5,7 tỷ USD, tăng 15,8% và chiếm tỷ trọng 4,7%; nhóm hàng hóa khác ước đạt gần 5 tỷ USD, tăng 36,2% và chiếm tỷ trọng 4,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Về tỷ lệ tăng trưởng thì mặt hàng đá quý, kim loại quý tuy có tỷ lệ tăng trưởng cao, song giá trị tuyệt đối không đáng kể. Mặt hàng linh kiện, phụ tùng xe gắn máy; xe gắn máy nguyên chiếc giảm đáng kể.

 

Trong 11 tháng qua, so với cùng kỳ, giá nhập khẩu bình quân của một số mặt hàng tăng như: lúa mỳ; ngô; chất dẻo nguyên liệu... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giá giảm như: hạt điều; quặng và khoáng sản khác; dầu thô; xăng dầu các loại; khí đốt hóa lỏng; phân bón; cao su; giấy các loại; bông các loại; thép các loại; kim loại thường khác; phế liệu sắt thép.

 

Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam với mức tăng 18,7%, chiếm tỷ trọng trên 81,2% tổng kim ngạch nhập khẩu; Châu Âu tăng 6,8% và chiếm tỷ trọng 8,3%, trong đó EU tăng 6,6%, chiếm tỷ trọng 7%; Châu Mỹ tăng 9,3% và chiếm tỷ trọng 6,4%; Châu Phi chiếm tỷ trọng 0,4%; Châu Đại Dương chiếm tỷ trọng 1,5% và thị trường khác chiếm tỷ trọng 2,2%

 

Cán cân thương mại cân bằng

Do duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và kiểm soát tốt nhập khẩu nên cán cân thương mại tiếp tục giữ được thế cân bằng. Nếu như trong qua 10 tháng năm nay, nhập siêu hàng hóa thực hiện là 146 triệu USD thì tháng 11 lại xuất siêu khoảng 50 triệu USD, nhờ vậy 11 tháng chỉ nhập siêu 96 triệu USD bằng 0,1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Đến thời điểm này, có thể đoán chắc chỉ tiêu nhạp siêu cả năm 2013 sẽ đạt kế hoạch đề ra và nằm trong nhóm 11/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt kế hoạch. Tuy vậy, cơ cấu cán cán thương mại cũng vẫn còn đáng suy nghĩ. Khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu của 12,3 tỷ USD; khu vực FDI không kể dầu thô xuất siêu khoảng 5,6 tỷ USD, kể cả dầu thô xuất siêu khoảng 12,2 tỷ USD.

 

Xúc tiến thương mại nhộn nhịp vào cuối năm

Trong tháng 11 các hoạt động tiếp tục được đẩy mạnh, nhằm hoàn thành các dự án thuộc Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia và Chương trình riêng của các ngành, địa phương, nhất là các Chương trình xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu. Riêng với Hàn Quốc đã có các hoạt động lớn hợp tác quốc tế về kinh tế - thương mại, đặc biệt là về xúc tiến thương mại như: Khởi công Dự án Vườn ươm công nghệ công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc tại khu công nghiệp Trà Nóc (Thành phố Cần Thơ).


Tại thành phố Cần Thơ, Uỷ ban Hỗn hợp tác phủ Việt Nam - Hàn Quốc về Hợp tác Điện hạt nhân, Công nghiệp, Năng lượng và Thương mại đã tiến hành phiên họp thường kỳ lần thứ tư.

 

Tại Hà Nội và tại Thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra Hội thảo và giao thương Việt Nam - Hàn Quốc”. do Cục Xúc tiến thương mại (VIETRADE) phối hợp với Trung tâm ASEAN – Hàn Quốc (AKC) và giữa VIETRADE với Hiệp hội các Nhà nhập khẩu Hàn Quốc (KOIMA).

Những việc chính trong tháng cuối cùng

Tinh thần chung là hoàn thành những Chương trình, kế hoạch công tác để thúc đẩy xuất khẩu, quản lý nhập khẩu nhằm hoàn thành với mức độ tốt nhất, chuẩn bị tiền đề cho năm 2014.

 

Tập trung khai thác giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống và đẩy mạnh tìm kiếm, phát triển thị trường xuất khẩu mới, chủ động đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong hoạt động cuả doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.

Hoàn thành những Chương trình Xúc tiến thương mại của năm 2013 trên tinh thần nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả.

 

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh các chính sách quản lý các mặt hàng nhập khẩu phù hợp với tình hình thực tế tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư; kiểm soát, giám sát chặt chẽ hàng hóa nhập khẩu đảm bảo đúng quy định, tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường; phối hợp rà soát, bổ sung, sửa đổi tăng thuế nhập khẩu phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế đối với các mặt hàng trong Danh mục máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được./.

ERV

Lịch sự kiện

VIET NAM: WE MEAN BUSINESS
Date: 07 - 10/11/2017
Venue: ACC, DA NANG

PROPAK VIETNAM 2018
Date: 20 - 22/03/2018
Venue: SECC, HCMC

MINING VIETNAM 2018
Date:  18 - 20/04/2018
Venue: ICE, HANOI

MTA VIETNAM 2018
Date:  03 - 06/07/2018
Venue: SECC, HCMC

MTA HANOI 2018
Date:  16 - 18/10/2018
Venue: ICE, HANOI

ELECTRIC VIETNAM 2018
Date:  12 - 14/09/2018
Venue: SECC, HCMC

FOOD AND HOTEL HANOI 2018
Date:  28 - 30/11/2018
Venue: ICE, HANOI

 

VCE on Social Media

Copyright © 2000 - 2018 by VCCI Exhibition Service Co., Ltd. All rights reserved.